Từ cửa biển Sa Kỳ, hàng trăm năm trước, những dân binh Đội Hoàng Sa đã dong thuyền ra khơi thiết lập và bảo vệ chủ quyền. Qua các tài liệu lịch sử và ký ức dân gian, hành trình giữ biển thiêng liêng ấy vẫn được lưu truyền đến tận ngày nay.

Đội hoàng sa dấu tích lịch sử và tâm linh bên cửa biển Sa Kỳ

Cửa biển Sa Kỳ có lịch sử lâu đời, gắn liền với cột mốc năm 1471 khi vua Lê Thánh Tông mở cõi về phương Nam. Đây được xác định là nơi xuất phát của những thế hệ dân binh đầu tiên trong công cuộc xác lập chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa. Theo sách Đại Nam thực lục tiền biên, triều đình đã thiết lập đội binh gồm 70 người từ xã An Vĩnh để hằng năm thực hiện nhiệm vụ đo đạc và khai thác sản vật tại các bãi cát trải dài hàng nghìn dặm ngoài biển Đông.

Gắn liền với các hải trình hiểm nguy là đời sống tâm linh phong phú của cư dân vạn chài bên cửa biển lộng gió. Trước mỗi chuyến ra khơi vào tháng 3 âm lịch, dân binh thường tề tựu tại dinh Bà Chúa Ngọc và khu vực Vườn Đồn để làm lễ xuất quân uy nghiêm. Họ dâng hương cầu nguyện mong sóng yên biển lặng, vượt qua mọi tai ương để hoàn thành nhiệm vụ và trở về bình an vào tháng 8 cùng những sản vật quý giá như hải sâm, đồi mồi.

Một minh chứng khác cho sự gắn kết giữa đức tin và nhiệm vụ giữ biển là câu chuyện về miếu “ông Hoàng Sa”, nơi thờ phụng đầu cá voi do dân binh rước về sau một chuyến hải trình. Do tác động của chiến tranh và sự thay đổi diện mạo làng xóm, dấu tích xưa của dinh Bà Chúa Ngọc và miếu cổ đã chịu nhiều hư hại qua thời gian. Hiện nay, các hiện vật linh thiêng được chuyển sang thờ tự tại lăng vạn An Vĩnh, thể hiện lòng tri ân sâu sắc của hậu thế đối với tiền nhân đã hy sinh vì biển đảo.

Sứ mệnh giữ biển và dòng chảy lịch sử liên tục

Công trình nghiên cứu của TS Nguyễn Đăng Vũ chỉ ra rằng từ thời các chúa Nguyễn, vùng đất này đã duy trì hai đội thuyền Hoàng Sa với quy mô 18 chiếc thuyền. Tài liệu sớm nhất là cuốn Phủ biên tạp lục viết năm 1776 của Lê Quý Đôn đã khẳng định sự hiện diện của đội binh này tại vùng cửa biển Sa Kỳ. Đến nửa đầu thế kỷ 19, nhiệm vụ của họ không chỉ dừng lại ở khai thác sản vật mà còn phối hợp với thủy quân nhà Nguyễn để đo đạc địa giới và vẽ bản đồ.

Tiếp nối truyền thống của cha ông, nhiều dòng họ tại Quảng Ngãi như họ Phạm đã gìn giữ ký ức về tổ tiên tham gia đội binh giữ đảo suốt nhiều thế kỷ. Ông Phạm Ngọc Trưng, hậu duệ đời thứ 12 của cụ Phạm Cảnh Tịnh, vẫn luôn nhớ về người em của viễn tổ là cụ Phạm Cảnh Thạch từng theo lệnh triều đình ra khơi. Những câu chuyện này được truyền lại cho con cháu như một lời nhắc nhở về trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng mà tiền nhân đã dày công gây dựng từ thuở quốc sơ.

Ý chí bám biển của người dân Sa Kỳ vẫn mạnh mẽ qua các thế hệ ngư dân hiện đại, tiêu biểu là hành trình 21 năm lênh đênh trên sóng nước của ông Trưng. Dù gặp không ít khó khăn khi tàu mắc cạn tại đảo Tri Tôn hay Bạch Quy, tình yêu biển đảo vẫn là động lực để họ kiên trì vươn khơi mưu sinh. Hằng năm, các lễ hội cầu ngư và đua thuyền tứ linh vẫn được tổ chức đều đặn, vừa để cầu mong mưa thuận gió hòa, vừa khẳng định chủ quyền của đất nước.

Nguyễn Mùi (tổng hợp)
.