Sau hơn một thế kỷ phụ thuộc giống ngoại, những củ thủy tiên đầu tiên nở hoa từ chính đất Việt đã xuất hiện tại đền Núi Sưa (Công viên Bách Thảo, Hà Nội). Thành quả ấy đánh dấu bước ngoặt văn hóa và nông nghiệp giàu cảm xúc.

Thủy tiên Việt Nam và khoảnh khắc lịch sử ở đền Núi Sưa

Sáng 19/1 (mùng 1 tháng Chạp), không gian đền Núi Sưa trong Công viên Bách Thảo trở nên tĩnh lặng khác thường. Gần một trăm người yêu hoa, từ các nghệ nhân cao tuổi đến thế hệ trẻ, cùng hội tụ quanh những bát thủy tiên đang độ hàm tiếu.

Những cánh hoa trắng muốt ôm lấy nhụy vàng, tỏa hương thanh khiết. Với nhiều người, đây không chỉ là một cuộc trưng bày hoa, mà là khoảnh khắc chứng kiến giấc mơ văn hóa kéo dài suốt hơn một thế kỷ cuối cùng được nối dài.

Thủy tiên Việt Nam và nỗi trăn trở hơn 100 năm phụ thuộc giống ngoại

Trong ký ức người Hà Nội, thủy tiên là biểu tượng Tết thanh tao, gắn với không khí thiêng liêng của năm mới. Thế nhưng, suốt hơn một trăm năm, toàn bộ củ giống thủy tiên đều phải nhập khẩu từ Trung Quốc.

Đầu thế kỷ XX, nhà canh nông Nguyễn Công Tiễu từng lập “Thủy Tiên Trang” tại làng Ngọc Hà với tham vọng tự chủ giống, nhưng thất bại khi cây chỉ tốt lá mà không ra hoa. Sau này, nhiều nỗ lực từ cá nhân đến đơn vị nhà nước cũng chung kết cục: củ teo tóp, thui chột sau năm đầu.

Chuỗi thất bại ấy khiến quan niệm “thủy tiên không thể trồng ở xứ nóng” trở thành một thứ định kiến ăn sâu vào tâm thức người chơi hoa.

Thủy tiên Việt Nam và hành trình âm thầm của Nguyễn Phúc Bính

Người phá vỡ định kiến ấy là anh Nguyễn Phúc Bính, 49 tuổi; một công chức Hà Nội đến với thủy tiên trong mùa dịch Covid-19. Nổi tiếng với kỹ thuật gọt hoa tinh xảo, mỗi năm anh làm hàng nghìn bát; nhưng trong lòng luôn canh cánh một nỗi tự ái nghề nghiệp: chơi hoa Việt nhưng phụ thuộc hoàn toàn củ giống ngoại.

Năm 2024, anh sang Chương Châu (Phúc Kiến) – thủ phủ thủy tiên thế giới – để học nghề. Các chuyên gia địa phương đều lắc đầu trước ý định trồng thủy tiên tại Việt Nam. Không bỏ cuộc, anh tiếp tục khảo sát đảo Sùng Minh; đối chiếu khí hậu, rồi trở về nước, bắt đầu những thử nghiệm bền bỉ.

Anh “chia trứng nhiều giỏ”; trồng từ vườn nhà ở Thanh Hà (Hải Dương cũ), bãi sông Hồng, cho tới các vùng núi phía Bắc. Cứ ba ngày anh lại giải phẫu củ, ghi chép thời tiết, thổ nhưỡng; tìm ra ngưỡng thích nghi mong manh của loài hoa vốn quen khí hậu ôn đới.

Thủy tiên Việt Nam
Thủy tiên Việt Nam và khoảnh khắc lịch sử ở đền Núi Sưa. (Ảnh;Chụp màn hình báo VnExpress)

Hành trình khoa học dân gian từ mồi câu cá đến thảo dược

Thách thức lớn nhất không phải khí hậu mà là vi khuẩn nhiệt đới. Củ giống vừa xuống đất đã thối nhũn sau một đêm sương. Thuốc bảo vệ thực vật hóa học không những không cứu được cây mà còn làm đất bạc màu.

Trong lúc bế tắc, anh Bính tình cờ nhận ra thùng mồi câu cá chép để quên hai năm vẫn không hỏng. Từ đó, anh suy luận trong mồi có thành phần kháng khuẩn mạnh. Đánh liều, anh sử dụng mồi phối trộn từ 14 vị thuốc Bắc để xử lý đất.

Kết quả vượt ngoài mong đợi: các vị thảo dược đã ức chế nấm khuẩn, giúp thủy tiên sống sót, sinh trưởng khỏe mạnh. Một hướng đi “khoa học dân gian” nhưng mang tính đột phá đã mở ra.

Từ củ Việt đầu tiên đến giấc mơ phục hồi thú chơi Tết

Vượt qua bệnh tật, anh Bính tiếp tục đối mặt bài toán “mù hoa”. Qua thực địa tại Phúc Kiến, anh nhận ra quy luật khắc nghiệt của thủy tiên: năm đầu không hoa, năm hai chỉ một mầm, năm ba tối đa một đến ba mầm.

Không tiếp cận được kỹ thuật “thổi hoa” bí truyền, anh tự mày mò chia nhỏ củ, biến đổi mô qua nhiều đêm thức trắng. Sau ba năm, những củ thủy tiên Việt Nam đầu tiên ra đời.

Tại lễ ra mắt ở đền Núi Sưa, giới nghệ nhân đánh giá hoa Việt có sức sống mạnh, cánh dày, hương thơm đậm và dai hơn hàng nhập. Hiện vườn anh cho thu hoạch khoảng 300 bó, hướng tới phổ biến thú chơi này với giá hợp lý.

Theo: VnExpress