THỪA THIÊN HUẾ – ĐÀ NẴNG – Vua Minh Mạng triều Nguyễn cho xây Hải Vân Quan trên đỉnh đèo Hải Vân và phong tặng danh hiệu “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”, đưa địa danh mang tên biển và mây trở thành biểu tượng của cả một vùng đất.
- Hơn 900 doanh nghiệp tại Hải Phòng nợ bảo hiểm xã hội vượt 500 tỷ đồng
- Mỹ không kích Iran đêm thứ tư, tái lập phong tỏa hải quân ở Hormuz
- 13 tuổi đi làm thuê mùa hè để tự mua thẻ bảo hiểm y tế cho năm học
Năm Minh Mạng thứ 7 (1826), triều đình nhà Nguyễn coi đèo Hải Vân là tấm bình phong chiến lược che chắn phía Nam Kinh thành Huế nên quyết định dựng cụm công trình phòng thủ trên đỉnh đèo. Con đèo cao trung bình khoảng 500 mét so với mực nước biển này vốn mang tên ghép từ hai chữ Hán Việt “hải” (biển) và “vân” (mây), phản ánh đúng cảnh tượng mây mù quấn quanh đỉnh núi trong khi biển xanh trải dài phía dưới.
Theo cách chiết tự Hán Việt, “hải” (海) nghĩa là biển và “vân” (云) nghĩa là mây, ghép lại thành “Hải Vân” – biển mây. Đèo Hải Vân là nhánh núi của dãy Trường Sơn đâm ngang ra sát biển, cao trung bình khoảng 500 mét so với mực nước biển.
Cấu trúc địa hình này tạo ra hiện tượng ngưng tụ hơi nước đặc trưng. Hơi ẩm từ biển Đông bốc lên gặp vách núi dựng đứng, bị chặn lại và ngưng tụ thành mây bao phủ đỉnh đèo quanh năm.
Từ đỉnh Hải Vân Quan nhìn xuống, biển xanh vỗ sóng vào vách đá phía dưới, còn mây trắng lững lờ trôi ngay trên đầu. Tên gọi “Hải Vân” ra đời từ chính cảnh tượng ấy, không phải một lối đặt tên tùy hứng.
Dãy Bạch Mã, nơi con đèo vắt ngang, tạo ra ranh giới khí hậu rõ rệt giữa hai miền Nam – Bắc. Vào mùa đông, gió mùa Đông Bắc mang khí lạnh và ẩm tràn xuống nhưng bị chặn lại tại đây, không thể tiến sâu hơn vào phía Nam.
Phía Bắc đèo, thuộc Thừa Thiên Huế, chìm trong sương mù và mưa phùn – đúng với yếu tố “vân”. Phía Nam, thuộc Đà Nẵng, trời quang nắng ấm ngay sau khi đổ dốc – đúng với yếu tố “hải”, và sự đối lập này chỉ diễn ra trong vài chục ki-lô-mét chiều dài con đèo.
Trước khi trở thành biểu tượng khí hậu, Hải Vân từng là ranh giới lãnh thổ giữa Đại Việt và vương quốc Champa cổ đại. Đến triều Nguyễn, con đèo giữ vai trò tấm bình phong chiến lược che chắn phía Nam Kinh thành Huế.
Năm Minh Mạng thứ 7 (1826), triều đình cho xây dựng cụm công trình phòng thủ kiên cố trên đỉnh đèo, gọi là Hải Vân Quan. Đây là dấu mốc xác lập vị thế quân sự chính thức của địa danh này.
Khi đích thân lên đỉnh đèo, vua Minh Mạng nhìn thấy núi non trùng điệp, mây trắng vờn quanh đỉnh núi và biển xanh bao la dưới chân, liền phong tặng nơi đây danh hiệu “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” (Cửa ải hùng vĩ nhất thiên hạ). Dòng chữ này được tạc trên tấm biển đá treo ở cửa ải hướng về phía Nam.
Ngày trước, vượt đèo Hải Vân là thử thách lớn về sức lực, thời gian và cả sự an toàn đối với khách bộ hành. Hầm đường bộ Hải Vân xuyên lòng núi đã thay đổi điều đó, giúp việc đi lại giữa hai miền Bắc – Nam trở nên nhanh chóng và an toàn hơn.
Cung đường đèo hiểm trở trước đây nay nằm trong số những cung đường ven biển đẹp nhất thế giới và vẫn là điểm đến của du khách trong nước lẫn quốc tế. Cái tên “Hải Vân” nhờ vậy tiếp tục gắn với cả giá trị lịch sử lẫn giá trị du lịch của một vùng đất.
Nguyễn Mùi (tổng hợp)