Những mô hình nuôi dúi, trồng chè shan tuyết và dệt thổ cẩm đang mở thêm sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở miền Tây Nghệ An.
- Ảnh vệ tinh cho thấy lũ quét Himalaya tàn phá xa hơn dự tính
- Phát hiện hàn the trong bánh cuốn, người phụ nữ 66 tuổi bị khởi tố
- Cây mắc ca bén rễ trên đất khó Nghệ An, mở hướng làm giàu cho nông dân
Đầu tháng 8/2026, đoàn công tác Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An đến thực tế tại Môn Sơn, Huồi Tụ và Vĩnh Tường. Tại Môn Sơn, một địa bàn rộng hơn 529 km² với 18.836 dân, tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức 15,35%, tương đương 638 hộ.
Trong những câu chuyện được ghi nhận, anh Trần Văn Kiên, 48 tuổi, trú xóm Hoa Sơn 3, xã Vĩnh Tường, gây chú ý với trại dúi giống bắt đầu từ tháng 10/2025. Đến nay, mô hình mang về 500 triệu đồng, trong đó lãi ròng đạt 400 triệu đồng sau khi trừ chi phí.
Từ chuồng dúi đến những sinh kế trên núi
Miền Tây Nghệ An là nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm hơn 14% dân số toàn tỉnh. Địa hình chia cắt, cuộc sống gắn với nương rẫy khiến Môn Sơn, Huồi Tụ cùng nhiều xã khác vẫn thuộc diện đặc biệt khó khăn.
Từ năm 2023, các xã bắt đầu đẩy mạnh những mô hình phù hợp với thổ nhưỡng và tập quán sản xuất của người dân. Ở Môn Sơn, gần 40 hộ nuôi ong nội, 40 hộ nuôi cá bọp, 64 hộ trồng na và hồng xiêm, trong khi 68 hộ nuôi dúi đã được triển khai tại 12 bản.
Một chương trình hỗ trợ theo dự án 9 cũng đã cấp 112 con bê giống cho 56 hộ dân ở hai bản Co Phạt và Khe Búng. Những con số ấy nằm giữa một vùng đất mà mỗi mô hình sinh kế đều gắn với điều kiện riêng của bản làng.
Ở Huồi Tụ, cây chè shan tuyết cổ thụ đang cho thu hoạch trên diện tích 288,1 ha. Bên cạnh đó còn có sa nhân tím và gà đen bản địa được phát triển dựa trên lợi thế rừng núi.
Còn tại bản Xiềng, xã Môn Sơn, những khung dệt của phụ nữ Thái giữ lại một nghề đã đi cùng đời sống cộng đồng. Tháng 6/2025, nghề dệt thổ cẩm của người Thái tại đây được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, mở thêm hướng gắn nghề truyền thống với du lịch cộng đồng quanh Vườn quốc gia Pù Mát.
Những mô hình ấy được triển khai trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, một trong ba chương trình mục tiêu quốc gia được Quốc hội tích hợp theo Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025.
Khi người dân tự tìm đường đi
Trong những mô hình được nhắc đến, có những cách làm bắt đầu từ chính người dân. Anh Trần Văn Kiên từng nhiều năm làm ăn xa trước khi về quê và tự tìm hiểu cách nuôi dúi từ nguồn giống phía Bắc.
Ở bản Huồi Khe, ông Hờ Pà Chù cũng tự trồng sa nhân tím và đạt mức thu nhập 65-70 triệu đồng mỗi năm. Con số này cao hơn mức bình quân của những hộ nhận hỗ trợ theo chương trình được đề cập trong bài.
Trong khi đó, nguồn lực dành cho các chương trình giảm nghèo vẫn rất lớn. Riêng Môn Sơn được phân bổ hơn 31,6 tỷ đồng, nhưng đến cuối tháng 6/2026 mới giải ngân hơn 19 tỷ đồng, tương đương gần 60%.
Khoảng cách giữa nguồn lực được phân bổ và tiến độ giải ngân vẫn hiện hữu bên cạnh những mô hình do người dân tự gây dựng. Nuôi dúi, trồng sa nhân tím hay làm thổ cẩm vì thế không chỉ là những câu chuyện riêng của từng hộ, mà còn cho thấy nhiều cách khác nhau đang được thử nghiệm trên cùng một vùng đất.
Việc bản Xiềng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cũng mở ra một câu hỏi khác: làm sao để nghề truyền thống vừa được giữ lại, vừa có thể tạo sinh kế. Theo VietnamPlus, Nghệ An hiện có 15 làng nghề dệt thổ cẩm được tỉnh công nhận, tập trung ở các huyện miền núi như: Quỳ Châu, Quế Phong và Con Cuông.
Từ một chuồng dúi ở Vĩnh Tường đến những nương chè ở Huồi Tụ và khung dệt tại bản Xiềng, câu chuyện sinh kế của miền Tây Nghệ An vẫn đang được viết tiếp. Điều còn lại không chỉ là những con số thu nhập, mà là khả năng để những cách làm ấy đứng vững theo thời gian.
Trường Anh (tổng hợp)

