Site icon MUC Women

Công nghệ chiến lược Việt Nam

Kỹ sư thử nghiệm thiết bị trạm gốc 5G do Việt Nam phát triển. Ảnh: suu tam

Công nghệ chiến lược Việt Nam được xác định là trụ cột bảo đảm an ninh, phát triển kinh tế và nâng tầm quốc gia. Năm nay, Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ ba sản phẩm công nghệ chiến lược


Công nghệ chiến lược Việt Nam là gì và vì sao quan trọng

được hiểu là những công nghệ lõi có tác động trực tiếp đến an ninh quốc gia; sức cạnh tranh kinh tế và uy tín đất nước. Đây là khái niệm lần đầu tiên được nêu trong Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị; sau đó được thể chế hóa trong Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tháng 6 vừa qua; Chính phủ đã công bố danh mục 11 nhóm công nghệ chiến lược với 35 sản phẩm ưu tiên. Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục lựa chọn 6 công nghệ để triển khai sớm; gồm: thiết bị mạng 5G chuẩn ORAN; mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, robot di động tự hành; nền tảng blockchain truy xuất nguồn gốc, UAV và AI camera biên giới.

Máy bay không người lái (UAV) do doanh nghiệp Việt Nam phát triển. Ảnh: suu tam

Công nghệ chiến lược Việt Nam gắn với doanh nghiệp làm trung tâm

Doanh nghiệp được xác định là hạt nhân trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Chỉ có doanh nghiệp mới đủ năng lực chuyển công nghệ thành sản phẩm thực tiễn; đáp ứng nhu cầu thị trường. Viettel là một trong những điển hình khi đầu tư đội ngũ hơn 3.000 nhân lực nghiên cứu công nghệ chiến lược; từ 5G đến UAV. Tập đoàn cũng xây dựng văn hóa khuyến khích sáng tạo; thưởng tới 5% giá trị ý tưởng được áp dụng thành công. Tuy nhiên, khó khăn vẫn tồn tại: tỷ lệ đầu tư R&D còn thấp; số lượng bằng sáng chế quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam chưa nhiều. Đây là thách thức lớn nếu muốn khẳng định vị thế toàn cầu.

Công nghệ chiến lược Việt Nam cần mô hình liên kết ba nhà

Giới chuyên gia nhấn mạnh, để thực sự bứt phá, phải có sự phối hợp giữa Nhà nước, viện trường và doanh nghiệp. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, đầu tư và đặt hàng nghiên cứu. Viện trường là nơi sản sinh tri thức, đào tạo nhân lực. Doanh nghiệp vừa là đầu kéo thị trường vừa thương mại hóa sản phẩm. Bài học Hàn Quốc cho thấy, nhờ đầu tư mạnh vào R&D quốc gia, khuyến khích doanh nghiệp tài trợ cho trường, viện, nước này đã vươn lên top 10 kinh tế thế giới. Việt Nam hoàn toàn có thể đi theo con đường tương tự; nếu có chính sách đồng bộ và cơ chế chia sẻ rủi ro.

Công nghệ chiến lược Việt Nam và khát vọng tự chủ đến 2035

Bộ Khoa học và Công nghệ đặt mục tiêu đến năm 2027, Việt Nam làm chủ ít nhất 20 sản phẩm Đến năm 2035, con số này vượt 25 sản phẩm. Để đạt được, chiến lược được vạch rõ: doanh nghiệp làm trung tâm, bài toán lớn là động lực, nhân tài là chìa khóa và hệ sinh thái đổi mới là sức mạnh. Việt Nam sẽ thu hút chất xám toàn cầu, đồng thời áp dụng cơ chế đãi ngộ theo Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bảo đảm quyền lợi của các nhà khoa học. Từ đó, đội ngũ trí thức sẽ có động lực giải quyết đến cùng những thách thức mang tầm quốc gia.

Công nghệ chiến lược Việt Nam

không chỉ đơn thuần là câu chuyện về phát triển kinh tế mà còn là bài toán an ninh, chủ quyền và vị thế dân tộc. Chặng đường phía trước còn nhiều khó khăn, nhưng với quyết tâm của Nhà nước, doanh nghiệp, viện trường và giới trí thức, Việt Nam hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ lõi, tiến tới xuất khẩu tri thức và khẳng định vai trò trong bản đồ công nghệ toàn cầu.